Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên có một nền tảng bảo vệ, và tái tạo môi trường Việt Nam

Đấu tranh môi trường là một nội hàm của đất tranh dân chủ hóa
Mục đích của tôi khi viết bài viết này là một cố gắng tri thức để làm rõ những vấn đề về quy hoạch và quản lý môi trường trong một kỷ nguyên mới. Điều này cần được đặt ra trong một bối cảnh môi trường Việt Nam đã kiệt quệ, và có những dấu hiệu rằng chúng ta sẽ mất đi những khả năng chống chịu căn bản trước những thảm họa bất ngờ hoặc những vòng lặp bão, lũ có tính chu kỳ của một đới khí hậu nhiệt đời gió mùa nằm, nhưng có dấu hiệu cực đoan hơn trước ảnh hưởng của Biến đổi khí hậu. Chúng ta đều phải nhìn nhận rằng vấn đề bảo vệ môi trường, và biến đổi khí hậu đã là một nền tảng của an ninh quốc gia, và tương lai của một quốc gia trong một vài thập kỷ tới sẽ phụ thuộc một phần vào những nỗ lực tự thân, và những cố gắng chung của thế giới để chống chịu lại Biến đổi khí hậu. Ông Nguyễn Gia Kiểng cũng trình bày một quan sát của mình rằng vấn đề khủng hoảng di dân thường do hai yếu tố là đàn áp chính trị và biến đổi khí hậu. Với người Việt chúng ta, như dự án Khai Sáng Kỷ Nguyên Thứ hai đã trình bày, nền tảng của chúng ta là đất và nước, đất nước đã ô nhiễm thì quốc gia của chúng ta cũng sẽ suy tàn.
Chúng ta cũng nhìn nhận rằng, thực tế phong trào đấu tranh dân chủ Việt Nam ban đầu xuất phát từ một số nhóm nhỏ hoạt động như những đảng xanh trong xã hội dân sự bắt đầu từ những năm 2010, hay 2012, trước khi nhận thức về đấu tranh dân chủ của người Việt Nam bao trùm những nội hàm lớn hơn. Nên không có gì quá đáng khi nói đấu tranh dân chủ và đấu tranh cho môi trường (nghĩa là bảo vệ đất nước Việt Nam là một. Chúng ta cũng đang chìm trong một cơn bão của thông tin, trong đó có nhiều thông tin trái ngược; những định hướng khác nhau về công nghệ kỹ thuật; điều đó cũng khiến nhiều người đấu tranh môi trường, thậm chí là những chuyên gia về môi trường, hoặc các lĩnh vực liên quan bị choáng ngợp. Chúng ta cũng thấy rằng, tuy thực tế quan tâm về môi trường ngày càng cao hơn, nhưng thực tế có vẻ người ta ít lắng nghe những tiếng nói của giới đấu tranh môi trường hơn; điều này cho thấy những cố gắng đấu tranh cho môi trường Việt Nam cần đặt trên một nền tảng và một triết lý mới để định hướng những cố gắng bảo vệ đất nước trong một thời đại mà thông tin và khoa học kỹ nghệ, và một tình trạng phức tạp hơn về kỹ thuật quản lý môi trường khiến chúng ta mất đi tính thuyết phục.
Giải pháp cho ô nhiễm không khí đô thị?
Gần đây, Hà Nội và các cụm thành phố công nghiệp phía bắc đã được biết đến như một thành phố ô nhiễm nhất thế giới, nhiều khu vực công nghiệp như Thái Nguyên, Bắc Ninh có mức ô nhiệm bụi mịn PM2.5 tức thời thậm chí vượt mức 150 µg/m³, trong khi nhiều tiêu chuẩn thế giới trong đó có Hướng dẫn của WHO cũng chỉ cho phép mức bụi mịn ở mức tối thiểu 75 mà thôi. Trong những thời kỳ trước khi các hoạt động công nghiệp, và đầu tư nở rộ; chúng ta có một mức độ ô nhiễm không khí các khí SOx, COx sinh ra từ quá trình đốt các phụ phẩm công nghiệp. Nhưng trong 2 thập kỷ qua, hai thành phố lớn là Hà Nội và Sài Gòn tăng trưởng mạnh về các loại hình phương tiện cá nhân và công nghiệp hóa, khiến cho những nguồn phát thải mới gia tăng theo cấp số nhân. Trong đó, Hà Nội và các tỉnh công nghiệp phía Bắc ô nhiễm hơn phía Nam phần vì gần những nguồn phát thải lớn nhất từ miền Đông Trung Quốc, phần vì những đặc tính của những đợt gió mùa khiến tạo ra những loạt hạt ô nhiễm kết hợp giữa bụi và sương mùa/hơi nước, và sự tồn tại dai dẳng thêm của NOx trong mùa đông. Vấn đề ô nhiễm không khí là một vấn đề rất cấp bách, vì nó làm gia tăng các căn bệnh hô hấp cấp tính bên cạnh sự phát triển và sức khỏe lâu dài của người dân; đáng tiếc là đây là một vấn đề không có một phương pháp nào để giải quyết trong một thời gian ngắn hạn. Chúng ta đang nằm trong một vành đai công nghiệp trải từ miền Bắc Trung Quốc dọc các nước Đông Nam Á, có thậm chí chạy dọc sang các nước Bắc Phi. Đó cũng là một vấn đề chung, mà chúng ta chỉ có thể nâng cao khả năng chống chịu.
Các biện pháp như hạn chế phương tiện vào nội đô thành phố, tái quy hoạch các cụm công nghiệp khỏi trung tâm đô thị, nâng cao phương tiện công cộng là những giải pháp chung và chúng ta đã nghe rất nhiều. Tuy nhiên, một tình trạng nhân mãn tại các thành phố lớn sẽ khiến những giải pháp này gần như là không thể thực thi. Căn bản của quản lý một vấn đề ô nhiễm môi trường là quản lý nguồn ô nhiễm và quản lý những đối tượng nhạy cảm với ô nhiễm (sensitive receptors); nhưng trong một thành phố trật hẹp với một không gian kinh tế phi chính thức quá lớn; thì những khoảng cách không được đảm bảo, có quá nhiều nơi nhạy cảm với ô nhiễm để đưa ra một giải pháp cụ thể nhằm bảo vệ; mọi giải pháp cá nhân hoặc tập thể thường không có quá nhiều ý nghĩa. Những cố gắng để giảm thiểu ô nhiễm không khí phải được đặt trong một cố gắng lớn về tản quyền và tái bố trí dân số trên đất nước, một nội dung lớn của dân chủ hóa mà Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên đã trình bày.
Đây là một trường hợp để nhấn mạnh với chúng ta rằng vấn đề ô nhiễm môi trường không thể giải quyết được trên vấn đề dân chủ hóa, và những chính sách đúng đắn. Như tôi đã nhận định trong bài viết Ngôn ngữ, nền tảng để đi vào Kỷ nguyên mới không thuộc về Đảng Cộng Sản Việt Nam rằng chúng ta đang đi tới một nền kinh tế phi vật thể, nghĩa là càng ngày càng có sự xuất hiện của nhiều giá trị, nền tảng không thuộc một phần của con số GDP, hoặc được tính bằng 0; nhưng lại có giá trị thực tế trong kinh tế và cần được bảo vệ. Trong bối cảnh đó một trong những số đó là các giá trị bảo vệ môi trường. Theo những ước tính của World Bank, chi phí chăm sóc sức khỏe do ô nhiễm không khí sẽ gây tổn hại 6.1% GDP kinh tế toàn cầu. Điều đó cũng đồng nghĩa là nếu không giải quyết được vấn đề ô nhiễm không khí, mọi con số tăng trưởng trên hai con số mà Tô Lâm và lãnh đạo chế độ CSVN đặt ra là hoàn toàn là vô nghĩa.
Cải thiện môi trường và tổ chức đất nước như một thành phố lớn
Trong dự án Khai sáng Kỷ Nguyên thứ Hai, chúng tôi cũng đặt chung vấn đề “cải thiện môi trường” nằm trong cùng trong một nội hàm với “tổ chức đất nước như một thành phố lớn”. Tổ chức thành phố lớn ở đây là mang một ý niệm về một lối quy hoạch ngay ngắn, trật tự theo những tiêu chuẩn, và thiết kế cụ thể, cùng với một sự bao trùm và hài hòa. Khi có một mức độ tập trung dân số được giảm tải, và giải phóng được một không gian đô thị có thể được quy hoạch lại; chúng ta có thể dễ dàng áp dụng tiêu chuẩn chung về môi trường, và điều kiện sống mà đa số những chuyên gia quy hoạch, quản lý môi trường đều đồng ý.
Ví dụ như chúng ta sẽ khôi phục lại những không gian xanh trong thành phố theo quy tắc 3-30-300: nghĩa là mỗi ngôi nhà, trường học, công sở sẽ có ít nhất 3 cây trưởng thành, mỗi cụm dân cư sẽ dành ra 30% quỹ đất cho những bóng cây; không gian xanh và công viên sẽ phải hiện diện trong 300 mét phạm vi dân cư, trường học, và công sở.
Bên cạnh đó, chúng ta cũng không nên coi thành phố lớn là một môi trường hoàn toàn tách biệt với môi trường rừng. Tại sao chúng ta không xây dựng các thành phố thực hiện chức năng của rừng? Các thành phố cũng cần được phục hồi chức năng thoát, và lưu trữ nước tự nhiên của các khu rừng; thông qua việc thực thi các biện pháp kỹ thuật khiến nước mưa có thể ngấm tự nhiên, duy trì nguồn nước ngầm và sức khỏe của các tầng địa chất; các vườn hứng mưa trên không, những rãnh thoát nước mưa, cùng hệ thống cống băng đường để đưa nguồn nước mưa trở về các con sông, suối tự nhiên; bao gồm việc bảo tồn và phục hồi lại hệ thống ao hồ, đầm lầy để ngăn lũ lụt đô thị, và khôi phục lại những cảnh quan tự nhiên, và mời gọi về những loài chim cò, vạc, cùng côn trùng đã tồn tại trong thời kỳ tiền đô thị hóa.
Nhiều con số thống kê một cách tượng trưng cho thấy rằng các giải pháp dựa trên tự nhiên rẻ hơn 80% so với những giải pháp bê tông, cốt thép truyền thống. Và thực tế, những cố gắng tái quy hoạch thành phố lớn sẽ không hề đắt đỏ và cản trở kinh tế đất nước, vì nó có thể đạt được nhờ sự giải phóng của một không gian đô thị nhờ tản quyền, và tái phối trí dân số cũng đem đến sự tăng trưởng kinh tế cho các vùng đã phát triển dưới nhiều với tiềm năng của họ. Viết đến đây, tôi nhấn mạnh rằng, những triết lý của quy hoạch môi trường mà được đại đa số giới chuyên gia đã đồng thuận chỉ có thể thực hiện được trong những cố gắng dân chủ hóa lương thiện mà chúng tôi (Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên) đã trình bày trong Khai Sáng Kỷ Nguyên Thứ Hai. Sự chiến thắng của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên sẽ không chỉ là những chiến thắng của dân chủ, và nhân quyền; nó cũng là một bước đầu trong kế hoạch giải cứu môi sinh của đất nước; nghĩa là một cố gắng cứu nước. Ngược lại, một thể chế độ tài, hoặc một nền dân chủ không có nội dung sẽ không thể thực hiện được tản quyền vùng và tái phối trí dân số, và sẽ làm tình trạng nhân mãn thêm leo thang; khi một đô thị trong tình trạng quá tải, mọi cố gắng về quy hoạch là vô ích dù người ta cứ nói không được lấp ao hồ, không được phát triển sài Gòn thêm về hướng Nam; người ta biết vấn đề, nhưng bài toán quá tải dân số sẽ chẳng cho chúng ta thực hiện được những điều đúng.
Trên một nền dân chủ đúng đắn; những cố gắng về giáo dục, và khai mở ra sự sáng tạo trên nền tảng tư nhân cũng sẽ giúp đất nước nhanh chóng tiến về dịch vụ và thoát khỏi tình trạng một nền kinh tế sản xuất gia công. Nhờ đó chúng ta sẽ có cơ hội chấm dứt tình trạng phát thải CO2 xảy ra nhanh hơn tăng trưởng kinh tế, và từ đó đạt được cam kết Paris về biến đổi khí hậu phát thải ròng bằng 0 (nhờ vào việc giảm thiểu tỷ trọng của các ngành công nghiệp ô nhiễm, phát thải cao; và việc tái tại lại rừng) vào sau năm 2050.
Các cố gắng phục hồi lại rừng, dòng chảy, và tự nhiên
Một số tiêu chuẩn của quốc gia, và thế giới khuyến nghị các quốc gia giữa một diện tích rừng tối thiểu khoảng 33% diện tích rừng để đảm bảo cân bằng sinh thái và một tỷ lệ khoảng 2/3 độ che phủ tại các diện tích đồi núi. Tuy nhiên, mỗi quốc gia đều có những rủi ro khác nhau, và nhu cầu che phủ rừng khác nhau, nên những con số quy định là bao nhiêu phần trăm chúng ta sẽ cần phải nghiên cứu lại một cách nghiêm túc. Nhưng, có một điểm cần lưu ý ở đây là ngay cả con số về độ che phủ rừng chúng ta cần định lượng chính xác cho Việt Nam trong một kết hoạch quốc gia cũng không lượng hóa được đầy đủ khối lượng chúng ta cần phục hồi và tái tạo rừng. Mỗi loại rừng được tạo bởi những hỗn khối khác nhau và có những vai trò khác nhau tại từng địa phương. Với một diện tích rừng nguyên sinh còn lại khoảng 2%, chúng ta đang đứng trước một tình cảnh báo động toàn diện về sự sụp đổ của hệ sinh thái tự nhiên của đất nước. Sự gia tăng trồng rừng nhanh chóng nhưng chủ yếu là rừng sản xuất nông lâm nghiệp cũng không có nhiều ý nghĩa thực tiễn. Chúng ta có nhiều giải pháp kỹ thuật để quản lý chất lượng của việc trồng rừng địa phương:
Đầu tiên là một cố gắng hoàn chính chính sách, và kế hoạch quy hoạch về các khu vực cần được bảo vệ tại Việt Nam- hay Protected Area law: Ở đó chúng ta có thể định hình được những khu vực có tầm quan trọng khác nhau về sinh thái, lịch sử để bảo vệ: chẳng hạn như những cánh rừng cần được bảo vệ và phục hồi như những phòng tuyến đầu nguồn chống xói mòn, những khu rừng thiêng mang ý nghĩa đặc biệt về lịch sử và văn hóa, những hệ sinh thái đầm lầy, rừng ngập mặn đóng vai trò như những vùng đệm để giữ đất, phù sa và ngăn chặn ô nhiễm đất mặt, những kế hoạch, chính sách nghiêm túc quy định Khu vực cần bảo vệ cũng giúp định hướng các hoạt động kinh doanh, xây dựng. Cũng cần nhấn mạnh là thực tế các hệ sinh thái đầm lầy, rừng ngập nước có khả năng lưu trữ khí thải nhà kính còn lớn hơn cả hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới (thông qua rễ và đất); và đầm lầy là một thành tố vô cùng quan trọng trong cuộc chiến biến đổi khí hậu- và sẽ là một trọng tâm lớn của chúng ta.
Thứ hai, chúng ta sẽ phục hồi và tái tạo tự nhiên theo điều kiện sát nhất với trước khi bị tác động dù là thông qua việc trồng rừng tự nhiên hay đưa vào khuôn khổ các khu vực rừng quốc gia. Những loài cây thân gỗ, cây bụi, và cỏ thích hợp sẽ được lựa chọn và trồng tùy theo đặc tính đất của từng vùng và khu vực. Một hệ thống chấm thang điểm của độ phụ xanh, và tuổi rừng (ví dụ Natural Habitat Scoring) cũng sẽ được thiết lập để phục vụ chon nhu cầu này.
Thứ ba, chúng ta phải quả quyết luật hóa những khuyến nghị, và xu hướng tiến bộ của thế giới: ví dụ các tiêu chuẩn môi trường, và xã hội yêu cầu các hoạt động xây dựng, công nghiệp không được gây suy giảm về sinh khối tự nhiên, hoặc phải đạt tăng trưởng dương về sinh khối. Chúng ta sẽ quả quyết rằng các dự án phát triển tại Việt Nam không những không được phá thêm rừng mà còn phải tham gia vào kế hoạch phục hồi và tái tạo rừng- như một phần của kế hoạch tái thiết quốc gia mà Khai Sáng Kỷ Nguyên Thứ Hai để cập.
Điều cần lưu ý, phục hồi và tái tạo cũng bao gồm cả phục hồi và tái tạo dòng chảy tự nhiên nghĩa là chúng ta sẽ rà soát và gỡ bỏ các dự án thủy điện. Trong phạm vi phát triển nông thôn, và quy hoạch đô thị, chúng ta cũng sẽ tránh tình trạng ngăn chặn dòng chảy (damming) ở mức độ vi mô hơn, như việc đặt những đường ống băng đường nhỏ hơn so với dòng chảy, không đúng kỹ thuật tạo ra sói mòn, hoặc chạn đứng đường đi của dòng chảy.
Một cứu cánh cho Đồng Bằng Sông Cửu Long
Tôi không phải là một chuyên gia lớn, và cũng không có quá nhiều kiến thức về điều kiện tự nhiên, và sinh thái ở đồng bằng song Cứu Long, hay Tây Nam Bộ, Nam Phần Việt Nam. Nhưng những gì tôi biết cũng là những gì chúng ta biết và chúng ta cũng đồng ý với nhau là những rủi ro đang tiến đến ngày càng rõ rệt. Đây là một đồng bằng phụ thuộc chủ yếu vào nguồn nước mưa và nước ngầm (nhưng nước ngầm cũng được bồi dường bằng nguồn nước mưa), nhưng nghịch lý là đây vẫn là vùng các hoạt động thâm canh (intensive farming) điển hình là lúa nước nghĩa là phải sử dụng nhiều nước ngọt và một lượng lớn phân bón cùng thuộc trừ sâu gây ô nhiễm nguồn nước; nhiều vùng nuôi trồng thủy sản cũng vẫn còn phụ thuộc vào nước ngọt; nhưng cuộc khủng hoảng nước ngọt đã diễn ra vào những năm gần đây dẫn đến việc hàng ngàn hộ dân phải đi hàng tram cây số để lấy nước sinh hoạt. Chính quyền cũng có dự định xây dựng kênh đào để cứu vãn thực trạng này, và một phần ưu tư cho việc xây dựng các công trình thủy lợi như hồ chứa. Nhưng chắc chắn rằng, nam phần Việt Nam sẽ dần phải từ bỏ nông nghiệp để cứu vãn tình hình nghĩa là nhanh chóng tiến về công nghiệp và dịch vụ. Một sự chuyển dịch cũng khá khó và bấp bênh trong một môi trường thiếu thốn về nhân lực trình độ cao, và quan trọng hơn là đất nước chúng ta vẫn chưa có dân chủ.
Kế hoạch khôi phục và tái tạo rừng tất nhiên cũng bao gồm rừng ngập mặt, kết hợp với những công trình đê điều, những rào cản giảm sức sóng gây sói mòn bờ và bảo vệ hệ sinh thái bờ cát, bồi đắt phù sa tự nhiên. Tuy vậy, một vấn đề quan trọng nhất chúng ta cần phải làm là gỡ bỏ các đập thủy điện trải dài từ miền Nam Trung Quốc, thượng nguồn Bắc Lào kéo dài qua Cambodia và Nam Phần Việt Nam. Đồng thời các nước ASEAN lục địa cùng Trung Quốc sẽ phải làm việc với nhau để quản lý nguồn nước xuyên quốc gia. Tất nhiên, hiện giờ Trung Quốc đang hiện diện như một mối nguy về an ninh và chủ quyền cho từng quốc gia. Thực tế đã cho thấy Ủy hội sông Mekong đã không có một vai trò đáng kể nào để giải quyết vấn đề dòng sông Mekong và tình trạng bi đát của Nam Phần Việt Nam. Nhưng hãy thử tưởng tượng một bối cảnh Việt Nam dân chủ hóa, và có thể Lào và Cambodia cũng có một mức độ dân chủ tương đối. Trung Quốc sẽ bị bủa vây với một khối dân chủ Đông Á bao gồm Nhật, Hàn, và Đài Loan; cùng một khối dân chủ Đông Nam Á đang lên. Họ sẽ buộc phải đưa ra những sự nhượng bộ, đặc biệt là trong tình trạng khủng hoảng và túng quẫn khi đế chế Trung Hoa sắp sụp đổ. Dân chủ hóa thực tế là một nhu cầu cấp bách mang tính địa chính trị để đem đến một khối lượng sức ép đủ để buộc Trung Quốc phải quay trở lại đàm phán vấn đề sông Mekong. Và chúng ta cũng đừng quên rằng, không chỉ những người dân tại Tây Nam Bộ đang cần một tương lai đó. Những người Việt (không được nhìn nhận quốc tịch) sống quanh khu vực biển Hồ, và những người dân hai nước Việt Nam-Cambodia đang phụ thuộc vào nguồn sinh kế, nguồn cá tôm vốn đá từng rất rồi rào, giờ trở nên cạn kiệt vì sự suy tàn của song Mekong do các con đập thủy điện; cũng đang cần một tương lai dân chủ hóa.
Trong một tinh thần, chúng ta sẽ phải chuẩn bị cho một bối cảnh mới của đất nước; chúng ta sẽ phải đặt ưu tư về môi trường và biến đổi khí hậu lên hàng đầu. Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên bảo vệ môi trường sẽ không thể thực hiện nếu không có dân chủ hóa trên một chính sách, và những cố gắng lành mạnh; những nhà đấu tranh môi trường có thể rất đáng kính và dũng cảm, nhưng họ dần bị mất nội hàm vì họ chưa đủ quả quyết để lựa chọn một dự án chính trị nêu cao nhu cầu bảo vệ và phục hồi môi trường. Đấu tranh bảo vệ môi trường đôi khi cũng là đấu tranh để đề cao một ý thức bảo vệ môi trường- nhưng ý thức bảo vệ môi trường là một ý thức quốc gia, người ta cảm thấy cần bảo vệ môi trường, vì chúng ta yêu thương nhau và muốn đồng bào mình đều có một sức khỏe, một không gian đáng sống. Với 42 từ môi trường và 7 từ môi sinh được nêu ra trong dự án Khai Sáng Kỷ Nguyên Thứ Hai, Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên là một tổ chức chính trị gần như đầu tiên của Việt Nam, và thậm chí trong khu vực đã đấu tranh một cách bài bản nhất để bảo vệ môi trường và coi tái tạo môi trường là một phần của kế hoạch phục hưng dân nước ngay từ khi chúng tôi chỉ là một đối lập.
Đó sẽ là một nền tảng, một ngôn ngữ để người dân Việt Nam, và thế giới yên tâm rằng Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên luôn đứng về phía lẽ phải, những cam kết, và những giá trị tiến bộ; và tuổi 43 của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên sẽ chỉ là một sự trưởng thành và tư tưởng, và một sự tiếp nối của những gì được chúng tôi vun đắp.
Tô Lâm và đảng Cộng Sản Việt Nam đã được biến đến như một chính đảng phá hoại môi trường, hủy hoại đất nước Việt Nam; nhưng Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên sẽ ngày càng chứng tỏ là một lực lượng có giải pháp tái thiết môi trường, và phục hưng lại đất nước. Nhưng, ngày hôm nay khi đã phá nát đất nước Việt Nam và khiến đất nước tan vỡ, đảng CSVN không thể tiếp tục phá thêm những hạt mầm mà chúng tôi đã ngày đêm reo trồng. Những người Việt yêu nước, và những người cộng sản còn lý chí cần phải nâng niu và bảo về những hạt mầm đó. Để mần non mà Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên reo lên sẽ lớn dần bén rễ và trưởng thành, một trong những hạt mầm đó là hạt mầm của tinh thần hòa giải dân tộc.